Các trường hợp nào thì được loại trừ trách nhiệm hình sự?

Sau khi thực hiện những hành vi gây hại, đe dọa đến sự tồn tại và phát triển chung của toàn xã hội, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) bằng cách thực hiện và chấp nhận những mức án phạt theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên có những trường hợp, mặc dù đã phạm tội nhưng không bị xử phạt, cũng không phải thi hành án vì đã được loại trừ trách nhiệm hình sự. Vậy loại trừ trách nhiệm hình sự là gì? Các trường hợp nào thì được loại trừ trách nhiệm hình sự?
 

Các trường hợp nào thì được loại trừ trách nhiệm hình sự?
 

Khái niệm loại trừ trách nhiệm hình sự

Loại trừ trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng của Bộ luật Hình sự Việt Nam, quy định về những sự việc, hành vi phạm tội gây thiệt hại lớn về mặt pháp lý, hình sự nhưng không bị coi là tội phạm hoặc không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Những hành vi được loại trừ trách nhiệm hình sự có đặc điểm cơ bản: là hành vi gây thiệt hại bị cấm hoặc đã quy định trong các điều luật cụ thể của Luật hình sự; các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng được coi là hợp pháp về mặt pháp lý; hành vi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như người khác trong giới hạn của Luật hình sự; hành vi không đủ dấu hiệu để cấu thành tội phạm. Tuy nhiên tùy theo từng trường hợp mà các hành vi này có được loại trừ trách nhiệm hình sự hay không? Vậy những trường hợp nào được loại trừ trách nhiệm hình sự?
 

Các trường hợp nào thì được loại trừ trách nhiệm hình sự?
 

Các trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 thì các trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự cụ thể như sau:

► Trường hợp thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không thấy trước được hậu quả do sự kiện bất ngờ. Trong trường hợp này, người gây ra hành vi thiếu yếu tố lỗi và dấu hiệu về chủ quan của tội phạm nên không thể cấu thành tội phạm, từ đó không bị truy cứu TNHS.

► Trường hợp những người gây ra hành vi gây hại trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự như đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Trường hợp này thiếu dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm nên không thể cấu thành tội phạm.

► Trường hợp những người thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp của mình, người khác cũng như các cơ quan, tổ chức nào đó. Nếu một người thực hiện hành vi phòng vệ vượt quá hành vi xâm hại thì sẽ phải chịu TNHS. Tuy nhiên so với những trường hợp khác, họ sẽ được xem xét các tình tiết giảm nhẹ.

► Trường hợp những người thực hiện hành vi gây hại trong tình thế cấp thiết. Họ bắt buộc phải thực hiện hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý nhằm ngăn chặn những thiệt hại lớn hơn, bảo vệ cho lợi ích chính đáng của bản thân cũng như những người xung quanh. Những trường hợp thực hiện hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý để ngăn chặn những hành vi có mức độ nguy hiểm ít hơn sẽ bị truy cứu TNHS nhưng được xem xét các tình tiết giảm nhẹ.
 

Các trường hợp nào thì được loại trừ trách nhiệm hình sự?
 

► Trường hợp những người không còn cách nào khác nên bắt buộc phải thực hiện các hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý hoặc sử dụng vũ khí để bắt giữ tội phạm sẽ không bị truy cứu TNHS. Các hành vi gây hại trong trường hợp này phải thỏa mãn các điều kiện: hành vi gây hại trong khi bắt giữ phải thuộc về chủ thể có thẩm quyền; hành vi gây hại phải là biện pháp cuối cùng; chỉ sử dụng vũ lực khi thật sự cần thiết. Những trường hợp sử dụng vũ lực quá mức cần thiết và gây thiệt hại nghiêm trọng cho tội phạm cần bắt giữ thì sẽ phải chịu TNHS.

► Trường hợp gây thiệt hại trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới để đem lại những lợi ích cho xã hội, cộng đồng mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa sẽ không bị truy cứu TNHS.

Trường hợp những người thực hiện hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu TNHS. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu TNHS.

Trên đây là thông tin về các trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự mà 24h Tin muốn chia sẻ đến bạn đọc. Hi vọng sau khi tham khảo bài viết, các bạn đã nắm được loại trừ trách nhiệm hình sự là gì? Các trường hợp nào thì được loại trừ trách nhiệm hình sự?

Chủ đề: luật hình sự

Ý kiến của bạn:

Tin Pháp Luật khác: