Cự Đà – Ngôi làng cổ ven đô
Trở lại Cự Đà – Ngôi làng cổ ven đô vào một chiều cuối xuân, con đường không còn mưa bay, những mảng mây thưa xen lẫn mây dày giăng kín bầu trời. Từ trung tâm quận Hà Đông đến Cự Đà khoảng cách không xa, chỉ độ dăm cây số, nhưng phải đi len lỏi qua mấy xã, đường hẹp như con rắn luồn lách qua những làng, chật chội như nêm, lúc nào cũng ồn ã người, phương tiện xin xít chen nhau.

Từ thời Lê Trung Hưng trở về trước, làng Cự Đà có tên là Ngô Khê. Ngô là cây ngô đồng, Khê là khe nước, nghĩa là làng ven suối ngô đồng. Làng có 4 dòng họ lớn vào loại danh gia vọng tộc: Đinh, Trịnh, Vũ, Vương. Cách đây vào khoảng 350 năm, một người họ Vương từ Thanh Hoá về làng Ngô Khê định cư, khi cuộc sống đã khấm khá, trở thành một thế lực trong làng, họ đã đổi tên làng Ngô Khê thành làng Cự Đà để nhớ lại cố hương của mình. Nhà nghiên cứu Vũ Hiệp gốc người Cự Đà đã có công tìm về Thanh Hoá để nghiên cứu sự việc này mới vỡ nhẽ là tại đây cũng có một làng mang tên Cự Đà. Trong chữ Hán, Cự là lớn, Đà là triền núi, Cự Đà có nghĩa là triền núi lớn. Vào giai đoạn hưng thịnh nhất của làng, nhiều người làm ăn phát đạt ở tứ xứ đều đặt bản hiệu với chữ “Cự” lên đầu.
Nhân dân làng Cự Đà nắm được thế đất thế sông và lợi dụng tốt điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà mà cộng đồng cư dân nơi đây giàu lên nhanh chóng. Chẳng mấy chốc sự giàu sang này đã không chỉ nổi tiếng khắp vùng, lan ra nhiều thành phố của cả nước, thậm chí cả ở nước ngoài.

Khác với các làng cùng nằm trên giải đất ven sông như Đa Sĩ, Hữu Thanh Oai, Tả Thanh Oai và Khúc Thuỷ – nơi xuất phát của nhiều bậc danh nhân văn hoá lớn của đất nước-, làng Cự Đà lại nổi lên với nhiều doanh nhân lớn vào loại nhất nhì nước Nam này. Vào cuối những năm 40 của thế kỷ trước, nhiều nhà đại phú nơi đây đã xưng vương như: “vua điền địa” có tới 400 – 500 mẫu ruộng, “vua ôtô, tàu thuỷ”, “vua dệt” và những cửa hiệu buôn bán lớn. Ngày đó tại Hà Nội, Hải Phòng cả Sài Gòn nữa, những cái tên như cụ Hai Tiên, Cự Đạt, Cự Hiển, Cự Phách, Cự Hoành, Cự Doanh, Cự Đồng, Cự Bổng… được nhiều người biết đến. thậm chí ở Paris, New York cũng có dân Cự Đà tham gia thương trường. Ngày nay trong dân gian vẫn còn lưu giữ những câu chuyện như trong cổ tích.

Chuyện kể: có một ông già nón lá rách bươm, đeo chiếc bị cói đại, đi trên chuyến đò dọc trên dòng sông Nhuệ trong xanh thơ mộng, tấp nập thuyền bè xuôi ngược đôi bờ với những làng quê trù phú lên Hà Nội. Ông ngồi bên mạn thuyền, hai chân khoả nước. được chủ thuyền nhã nhặn mời ngồi gọn lên thuyền, ông nói: “ta làm vậy cho mát mẻ thôi mà”. Khi đến bến lên, thấy ông chỉ trả một nửa giá vé, chủ thuyền có ý đòi nốt. Ông già nói: “ta có ngồi cả chỗ đâu, ta chỉ ngồi một nửa, vậy sao ta phải trả cả vé”. Chủ thuyền thấy đuối lý đành lặng lẽ quay sào. Lên đến Hà Nội ông tiến vào tiệm vàng to nhất ở phố hàng Bạc. Thấy ông lão nâu sồng rách rưới, mặt chủ tiệm vàng biến sắc, ngỏ ý biếu cụ ít tiền và mời cụ đi mau. Ông già gắt gỏng: “không, ta không thèm ăn xin nhà anh chị, ta đến để mua vàng”. Chủ tiệm bán tín bán nghi thưa: “dạ thưa cụ, xin cụ cho biết ý cụ mua được bao nhiêu ạ?”. Ông cụ cả quyết: “ta mua cả hiệu” và rồi đặt cái bị nặng trịch xuống bàn. Vợ chồng chủ tiệm mang toàn bộ số vàng có trong cửa hiệu ra, nhưng tiền đếm xong, vàng của nhà vẫn không đủ, phải sang mượn tạm cửa hàng bên cạnh. Đó là chuyện về ông vua ruộng, vua lúa – ông là người đã từng mua cả dãy phố ở chốn đô thành.

Khi mở rộng đường 6 tại khu vực Hà Đông, máy đào xúc của đơn vị thi công đã gặp được cả một hũ vàng và bạc trắng hoa xoè vương vãi khắp nơi. tất cả những cái đó đều là của người làng Cự Đà đấy. Từ cuối thập niên 30 thế kỷ trước, làng Cự Đà đã có điện, có đèn đường, có sân bóng, nhiều gia đình đã có ôtô sang trọng. Dọc bờ sông Nhuệ có hàng chục bến đá, bến hàng tấp nập thuyền bè. Đêm đêm những chiếu tổ tôm, những cửa hàng cao lâu chật khách, đèn rực sáng suốt canh thâu.

















