Home » Văn hóa »

“Cuộc sống mới mọc lên từ đá”

 
Kỳ cuối: Thâm cung bí sử về đại công trường mở đường phá đá kỳ vĩ
nhất Việt Nam…
(Trò chuyện với ông Phạm Đình Dy, vị “Tổng chỉ huy” công trường Đường Hạnh Phúc)

“Nhất định là nhất Việt Nam rồi. Tôi cũng từng đi tham gia mở đường Bắc Sơn – Đình Cả rồi, biết bao nhiêu đèo dốc nổi tiếng ở Việt Nam, chúng tôi cũng đã có mặt và thi công nhưng, nỗi vất vả, sự kỳ vĩ của công trình, những nơi kia không thấm gì so với đường Hà Giang – Mèo Vạc. Tuyến này đi qua biển đá, cao nguyên cao nhất Việt Nam, đến mức, lúc mở đường chúng ta đều phải nắn tuyến, phải đo đạc làm đường ở những nơi từ thuở trời đất sinh ra chưa có đường, chứ không dễ gì “lợi dụng” cơ sở vật chất của lối mòn của người bản xứ”.

Các ông Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Văn Cao… đã đi thực tế ở công trường Đồng Văn như thế nào?
- Chúng cháu nghe nói, ngày xưa, vì công trường quá vạm vỡ, biển đá quá kinh khủng và sự cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam trên công trường là kỷ lục, cho nên các văn nghệ sỹ nổi tiếng đều cố gắng có mặt để chứng kiến không khí ấy rồi sáng tác. Có đúng vậy không, thưa bác?
Nhiều chứ, Xuân Diệu có này, Nguyễn Tuân có này, Văn Cao có, Chế Lan Viên cũng có này. Khi nghe Bộ trưởng Bộ Giao thông Phan Trọng Tuệ giới thiệu, chúng tôi vinh dự đón các nghệ sỹ tên tuổi lên đi thực tế. Họ bảo, công trường phá đá tầm cỡ thế mà không lên thì… không phải là nghệ sỹ sống với nhịp đập cơ thể tổ quốc. Lên đến nơi, tưởng ai hóa ra là ông Chế Lan Viên, ông thầy dạy học cũ của tôi. Độ ấy, ông đi dạy hè, dạy tư ấy mà, ông ấy dạy môn Văn. Riêng ông Nguyễn Tuân thì thế này: con ông Tuân lại là bạn học cùng tôi, đi bộ đội cùng nữa. Họ đi thực tế với chúng tôi ngót nửa tháng chứ không ít đâu. Ngày xưa ấy mà, tinh thần nó khác bây giờ. Chứ ngày nay, có mời được mấy ông văn nghệ sỹ lên thì có khi lại phải phong bì phong biếc rồi xe mới pháo ầm ầm. Các ông Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… hồi ấy, ăn uống rất đơn giản.
Có một chuyện tôi rất tiếc là thế này, ông Văn Cao ông ấy bảo: “Ông Dy ngồi đây tôi vẽ cho ông một bức tranh thật đẹp”. Tranh vẽ bằng bút chì đen, ông ấy còn vẽ cả con gái tôi thế mà hồi chiến tranh sơ tán cất thế quái nào lại để nó thất lạc mất.
- Sao con đường khổng lồ, dữ dằn như thế ra đời, mà không có tác phẩm báo chí, văn chương, nhiếp ảnh hay phim phiếc gì cho nó xứng tầm, bác nhỉ?
Dư luận cả nước, cả Trung ương nữa đều coi đó là kỳ tích, rất đáng hoan nghênh! Nhưng mà hồi ấy là thế này. Hồi ấy tớ chê cái ông Trung ương lắm nhé, đáng lẽ nhà nước nên đứng ra khen thưởng những người anh hùng phá đá 8 năm ròng kia một câu. (Thay vì chỉ có sự động viện của Khu Tự trị qua… giấy tờ – PV).

“Cuộc sống mới mọc lên từ đá”

- Chúng cháu đã đi con đường Hạnh Phúc nhiều lần, đã chụp ảnh lại tất cả các cái huy hiệu thanh niên làm đường Đồng Văn (còn gọi là Đường Thanh niên Việt Bắc), cả những huy hiệu có vẽ hình Cổng trời Quản Bạ. Mong muốn của cháu là thế hệ nay và các thế hệ sau nên hiểu ngọn ngành về con đường bất hủ này. Chứ không nên, cứ mỗi một lần lên đấy, thấy những cung đường ngút ngàn trong mây và đá xám, thấy nó kỳ vĩ quá, bọn trẻ và du khách lại hỏi: ngày xưa làm đường này như thế nào mà giỏi thế. Rồi chẳng biết hỏi ai, chẳng ai biết mà giả nhời. Vả lại, những gì xúc cảm được, hiểu được từ đại công trường này có ý nghĩa giáo dục về thiên nhiên, lịch sử, đạo đức cống hiến rất tuyệt vời.
Thưa bác Dy, bác có nghĩ rằng: con đường Hạnh Phúc từ Hà Giang lên Đồng Văn, rồi vượt Mã Pí Lèng sang Mèo Vạc là con đường mà việc “đẻ” ra nó vất vả nhất nước ta không?
Nhất định là nhất Việt Nam rồi. Tôi cũng từng đi tham gia mở đường Bắc Sơn – Đình Cả rồi, biết bao nhiêu đèo dốc nổi tiếng ở Việt Nam, chúng tôi cũng đã có mặt và thi công nhưng, nỗi vất vả, sự kỳ vĩ của công trình, những nơi kia không thấm gì so với đường Hà Giang – Mèo Vạc. Tuyến này đi qua biển đá, cao nguyên cao nhất Việt Nam, đến mức, lúc mở đường chúng ta đều phải nắn tuyến, phải đo đạc làm đường ở những nơi từ thuở trời đất sinh ra chưa có đường, chứ không dễ gì “lợi dụng” cơ sở vật chất của lối mòn của người bản xứ.
Tuy nhiên, sự khắc nghiệt đến đáng sợ ấy cũng đã nhiều người lè lưỡi kể rồi. Tôi muốn nói về vẻ đẹp ngay trong sự khắc nghiệt chết người đó. Qua Mã Pí Lèng đi đường 9 khoanh uốn lượn qua 9 cái dốc. Đường Hạnh Phúc phải nắn sang tuyến như hiện nay để làm cho nó đỡ vất vả. Và con dốc cũ vẫn còn nguyên, rất là huyền thoại, thỉnh thoảng chỉ có vài người bản xứ đi nương đặt chân vào đó thôi. Đường của bà con nó hẹp đến mức con ngựa đi trước thì đá ngựa đi sau. Bụng con ngựa đi cứ chịn vào hai mép đá hai bên hẻm núi. Nó hẹp đến mức như thế cơ mà. Tôi rất tiếc, tôi đã mấy lần nói với cán bộ và bà con huyện Mèo Vạc, rằng các cậu nhớ giữ cái dốc 9 khoanh này để mà làm kỉ niệm nhé. Thế mà anh em nó nghe mình được mấy năm, năm ngoái năm kia tôi lên thì… chẳng còn hình dung đâu là dốc 9 khoanh nữa rồi. Có thể bà con người ta làm nương người ta cũng cuốc đường cũ người ta làm. Nhưng rõ ràng, tôi đã bảo làm ngô thì cứ làm còn cái dốc thì cố gắng giữ để kỷ niệm với tuyến đường đã gắn bó với bà con qua nhiều thế hệ này. Con dốc 9 khoanh nhìn vô cùng gợi cảm. Nếu mà còn, dân nhiếp ảnh các cậu có mà mê tơi (cười).
- Bác có nghĩ rằng, như các bác mà cháu phỏng vấn trước đây đều cho rằng sự tôn vinh con đường này cũng như chế độ đãi ngộ những người vất vả trực tiếp làm con đường này có rất nhiều bất cập? Ngày trước, khi chưa có cơ chế thì không nói, nay, việc tôn vinh là cần thiết và là một món nợ của chúng ta với lịch sử?
Chả có cái gì, đừng có nói chế độ gì, chả có cái gì (bù đắp cho những cống hiến và hy sinh của cả nghìn thanh niên xung phong cùng hàng nghìn dân công) hết. Làm xong đường, hết 6 hoặc 8 năm trời “đồn trú” trên đá (với người làm đường vào Mèo Vạc) là về thôi. Như vậy đấy. Chứ không phải như bây giờ, hơi một tý là đòi huân chương huân chiếc. Ngày xưa, chúng tôi chả có cái huân chương nào hết. Cũng không có một cái gì, cứ đơn giản như vậy từ anh cấp trên xuống đến anh cấp dưới. Đường xong, khánh thành vui vẻ là xong thôi, lại xông pha đi làm việc khác.
Vĩ đại nhất ở đại công trường ấy, là… lực lượng dân công. Và, lực lượng Thanh niên xung phong 6 tỉnh đã “cực kỳ anh hùng”

“Những cung đường đã và sẽ chiến thắng – khám phá thế giới của vô tận của đá”

- Cháu vừa mới đi một vòng cung Yên Minh – Mèo Vạc – Đồng Văn về, đi cả đườngHạnh Phúc, đường Mèo Vạc và đường Quyết Thắng lịch sử…[/I]
Năm kia (2005), tôi có lên lại Hà Giang, tôi có yêu cầu Tỉnh ủy là cho tôi đi xem lại con đường này. Tôi thấy anh em có mở rộng con đường, có rải nhựa được – cái đó cũng là hoan nghênh – thế còn, nói chung, tuyến đường ngày xưa như thế nào thì nó vẫn y nguyên như thế không thay đổi. Về sau anh em nó có điều kiện hơn, nó có tiền hơn nó có mở rộng thêm.[/ALIGN]
Nghĩ lại, ngày xưa, vĩ đại nhất là người dân, cậu có biết ngày xưa người dân (hàng nghìn người) tham gia làm đường thì được cái gì không? Mỗi 1 ngày công quy vào cho 1 cân gạo, 1 ngày công cho có 1 cân gạo trong đó thì có 8 lạng gạo và 2 lạng tính vào thức ăn, rau riếc. Không có hơn một tí gì nữa. Mới lại thế này: không có lán trại vì nhà nước có tiền đâu mà làm. Dân giăng bạt giăng ni-lông, người ta tự làm rồi tự chui vào đó tá túc. Bây giờ nói không phải là kể khổ đâu nhưng phải nói là hoàn cảnh đất nước lúc đó cũng không thể khác hơn được, cậu bảo làm cái đường này ông Khu (tự trị Việt Bắc) ông ấy chỉ thêm cho được tý nào thì thêm, còn bản thân “anh” Hà Giang phải móc túi móc tiếc hò nhau mà làm chứ có tài trợ kinh phí gì đâu.
- Cháu tưởng kinh phí là khu rót xuống, bấy giờ còn bao cấp mà bác.
Bấy giờ, có lẽ dồn tiền vào đi mua mìn là chính. Suốt 6 năm trời phá đá như thế, mà không có máy móc hỗ trợ gì. Khoan lót choòng hoàn toàn bằng tay. Đấy, cái vĩ đại của người dân là ở đấy. Tôi sang Hà Giang bây giờ, nói thật, tôi chỉ nhớ dân là chính, chứ chả nhớ “ông” nào hết. Dân vĩ đại là thế mà đến bây giờ mình ngồi xem lại những thước phim thấy dân vẫn khổ như vậy, mình đền đáp với dân như vậy có cái gì đó như là không thỏa đáng…
- Cháu có nghe cái khổ nhất hồi ấy không phải là cái đói mà là nước, nước thì cực kỳ thiếu, cái thứ hai là rau xanh…
Cậu có biết Thanh niên xung phong mùa khô này rất khổ, một ngày nam giới có một ca nước sinh hoạt; còn nữ giới một ca rưỡi, một ngày giời, có ngần này, “chúng mày” muốn làm thế nào thì làm.
- Nước ở trong kho có một người chuyên phân phối?
Ừ đúng rồi. Mà đi làm thế này đơn vị nào đóng gần sông suối ấy thì thằng ấy phúc nhất đấy – chứ còn thằng nào đi ngược phía trên kia thì khổ.
- Thế mà 6 năm trời!6 năm trời đấy.
Phải nói là Thanh niên xung phong của 6 tỉnh cực kỳ anh hùng.
- Bác có ấn tượng gì đặc biệt về sự kham khổ ghê gớm của anh em thanh niên xung phong làm đường Hạnh Phúc hồi đó?
Kham khổ thì như vậy, nhưng sức lao động người dân bỏ ra mình thấy cực kỳ vĩ đại. Mà bù lại cái thiệt thòi vì sự cam go đó cho người ta thì rất khó. Tôi, nhiều lúc, ngồi nghĩ, giờ những kẻ tham ô tham nhũng mà báo chí đã phanh phui, tôi nghĩ phải bắn hết chúng nó ngay lập tức. Nghĩ đến người xưa người ta hy sinh như thế, người ta không đòi hỏi gì; lại nghĩ cái sự thoái hoá trong tham nhũng thì thật đau lòng!
- Bác có thấy, cho đến bây giờ chưa có một quyển sách, thước phim hay những tư liệu tham khảo nào nói về đại công trình đường Hạnh Phúc; thậm chí, cháu đọc Lịch sử đảng bộ tỉnh Hà Giang cũng thấy họ không hề nhắc đến….
Nhắc thì có nhắc nhưng có mỗi cái câu tuyến đường như thế thôi, chứ không có kể lể tuyến đường ra làm sao, đầu cua tai nheo thì không có.
- Bác có nghĩ như thế là không đúng?
Anh em thì có nhiều người nó nói với tôi là anh nên viết cái này. Nhưng tôi chưa/không viết được.
- Thay mặt độc giả VTO, xin chân thành cảm ơn cuộc trò chuyện khó có thể thẳng thắn hơn, khó có thể sinh động và chi tiết hơn của bác!
Bây giờ, tôi nghỉ rồi chứ (nếu vẫn làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang, – PV) tôi sẽ bảo lực lượng Thanh niên xung phong cố gắng mà tổ chức lại kỷ niệm, chứ tôi chả thấy anh nào nói tới Thanh niên xung phong của tuyến đường Hà Giang vĩ đại kia cả./.

Hết

Ký sự dài kỳ của Đỗ Doãn Hoàng