Hà Giang khát

 

Bao năm mơ ước tôi đã được đặt chân lên vùng đất này. Có đến nơi mới thấy những gì mình nghe nói, hình dung đều quá nhỏ bé. Một buổi chiều mùa đông trên cao nguyên đá, những cơn gió lạnh hun hút thổi trườn trên những mỏm đá tai mèo xám buốt, cả một vùng đá mênh mông rợn ngợp. Con đường mang tên Hạnh phúc như con rắn uốn lượn bám vào vách núi. 

Đứng trên đỉnh Mã Pì Lèng nhìn xuống dòng Nho Quế như sợi chỉ xanh trong vắt chảy ra từ những mạch nước ngầm hắt lên hai bên vách đá dựng đứng. Nằm trên độ cao 1.600m so với mặt nước biển, cao nguyên đá trải dài trên 4 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang gồm Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn. Mùa đông nhiệt độ có lúc xuống đến 1oC.  Nơi đây chính là điểm tận cùng cực Bắc của Tổ quốc “cúi mặt sát đất, ngẩng mặt đụng trời”.

“Sống trên đá, chết nằm trong đá. Vẫn anh hùng vượt khó đi lên”, đó là những câu trong lời một bài hát và cũng là câu nói cửa miệng của người dân. Nơi này chỉ toàn là đá. Đi đến đâu cũng chỉ thấy đá. Một “rừng đá” tai mèo lởm chởm, sắc nhọn. Trong cái lạnh và hoang vắng tôi chợt tự hỏi mình: Thiếu đất, thiếu nước con người làm sao sống được? Vậy mà bao đời nay đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Lô Lô, Pà Thẻn, La Chí, Pu Péo… bám trụ trên cao nguyên đá này với một sức sống bền bỉ, quật cường. Trên lưng chừng núi, dưới thung thũng, đâu đâu cũng thấp thoáng nóc nhà, xóm bản của đồng bào. Cuộc sống của người dân quanh năm gắn liền với đá. Đá để làm nhà, làm tường rào kiên cố. Trên nương, đá xếp thành vòng cung giữ đất, giữ nước. Trên sườn núi, đá xếp thành ruộng bậc thang, đá giữ lại vài nhúm đất nhỏ nhoi, giữ giọt nước trong để gieo hạt lúa, hạt ngô; trồng cây đậu, cây rau. Đá còn dùng để xếp thành chuồng trâu, chuồng bò. Con người khi chết cũng “nằm” trong “vòng tròn” được xếp bằng đá…

Cái “khát” truyền đời

Thế nhưng, cũng chỉ “bốn bề là đá” nên đồng bào các dân tộc trên cao nguyên này không chỉ lo mưu sinh mà còn phải “vật lộn” với “cơn khát” do thiếu nước trầm trọng, nhất là vào mùa khô. Hàng năm từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, ông trời thường “dè sẻn” không “cho mưa” làm cho những con sông, suối, những mạch nước ngầm khô kiệt, người dân nơi đây lại “quay quắt” với nỗi lo thiếu nước. Nước chỉ được dùng cho những nhu cầu tối thiểu như để uống, nấu nướng và được tái sử dụng nhiều lần, cuối cùng cho gia súc uống. Trong suốt mùa khô, họ chỉ có nước tắm một vài lần vào cuối năm cũ hoặc đầu năm mới…


Cô bé đang mót nước ở một mó nước ven đường.


Vét cạn những giọt nước quý giá còn sót lại trên đất.

Mặc dù năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định đầu tư xây dựng cho 4 huyện vùng cao Hà Giang 30 hồ treo chứa nước. Đến nay một số hồ treo đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, các hồ còn lại đang được gấp rút thi công. Tuy nhiên thời điểm hiện nay lượng nước tại các hồ treo mới chỉ cung cấp đủ nước sinh hoạt cho khu vực trung tâm các xã còn các thôn, bản vùng cao tình trạng thiếu nước vẫn đang diễn ra gay gắt.


Nước trong hay đục đều được sử dụng vì không còn sự lựa chọn nào khác.

Đất và nước thiếu như vậy, lại thêm nắng hạn cùng giá rét khiến cây ngô, cây đậu còi cọc chẳng đủ lực mà vươn cao hơn đá. Cái đói đã trở thành thường trực với nhiều gia đình không chỉ mùa giáp hạt. Có một nhà khoa học ở Viện Địa chất (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) kể lại rằng, có lần nói chuyện với lãnh đạo địa phương, ông đã đặt câu hỏi: Làm thế nào cho đời sống của bà con khá lên? Có người nói đùa: “Bán đá đi!” Ông bảo: “Đừng bán, sớm muộn thì nhân loại tiến bộ cũng sẽ nhìn ra giá trị tuyệt vời của cao nguyên này”. Và ý tưởng xây dựng cao nguyên đá Đồng Văn thành công viên địa chất của thế giới được bắt đầu hình thành từ đây.
Dương Thanh Hoàn