“Tổng chỉ huy” công trường Đường Hạnh Phúc
Cuộc trường chinh vào trong lòng đá (kỳ 4- phần 3)
Kỳ IV: Trò chuyện với ông Phạm Đình Dy, vị “Tổng chỉ huy” công trường Đường Hạnh Phúc
Thâm cung bí sử về đại công trường mở đường phá đá kỳ vĩ nhất Việt Nam…

Ông Phạm Đình Dy, người trực tiếp khảo sát, lăn lộn “ngoại giao con thoi” và chỉ huy công trường đường Hạnh Phúc, nguyên Trưởng Ty giao thông, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Hà Giang Ảnh: Đỗ Hoàng Duy Nguyên
Lời người đi phỏng vấn:
Tôi đã vô cùng cảm kích bày tỏ sự tri ân những cống hiến lặng thầm mà vĩ đại của gần 3000 ngày ròng rã, suốt 8 năm trời; của hơn 2 triệu lượt ngày công lao động mà nhiều nghìn thanh niên và bà con 6 tỉnh Khu tự trị Việt Bắc cũ đã bỏ ra làm đường Hà Giang – Mèo Vạc. Tôi đã vướng phải nỗi buồn se thắt trong so sánh: từ gần 50 năm trước, chúng ta đã có cả một nghĩa trang riêng dành để tưởng nhớ những thanh niên xung phong đã ngã xuống cho Đường Hạnh Phúc được khai sinh; trong khi đó, những dòng tư liệu, những hình ảnh, những tác phẩm liên quan đến “Vạn lý trường thành của Việt Nam” này hầu như không có gì. Ngoại trừ vài dòng (theo đúng nghĩa đen, tức là vài trăm chữ) trong Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang! Và, nữa: hàng nghìn người gần đất xa trời vẫn vời vợi thương nhớ 8 năm tuổi trẻ của mình, nhớ đồng đội mình đã vĩnh viễn “gửi gắm” trên bắc ải Hà Giang. Nhớ, mơ ước một lần được thăm lại chiến trường xưa mà cũng không được. Nhớ, rồi thấy xót xa là tại sao công quả ngần ấy mà thế hệ trẻ bây giờ không có cơ sở nào để nhớ đến, tại sao cái trang sử đá ấy bị lu mờ tàn nhẫn thế? Không “cụ” Thanh niên xung phong (TNXP) nào muốn kể công hay nồng nã đòi vinh danh cá nhân cả. Song, lịch sử thì không nên vô tình đến thế. Như thế là mang tội với sự xả thân của những người đã ngã xuống, của 2 triệu ngày công lao động thủ công đối mặt với rợn ngợp đá. Và mang tội với cả mai hậu nữa.
Sau kỳ công sưu tầm những dòng tư liệu, những tấm ảnh mà không ai nghĩ là nó vẫn vô tình còn lại trên thế gian, tôi (được sự ủng hộ đặc biệt của các cựu Thanh niên xung phong khả kính) đã hoàn thành loạt bài dài kỳ về “Cuộc trường chinh vào trong lòng đá” đăng nhiều kỳ trên VTO. Trải quá trình tìm kiếm xuyên qua nhiều tỉnh thành, cuối cùng, không ngờ tôi lại gặp được vị Tổng chỉ huy đại công trường Hà Giang – Đồng Văn – Mèo Vạc tại Hà Nội, nhà ông lại ở ngay gần… khu Lăng Bác và Hội trường Ba Đình lịch sử.
Ông Phạm Đình Dy, nguyên Trưởng Ty (Sở) Giao thông tỉnh Hà Giang, người trong cuộc, người trực tiếp giải quyết cả những chuyện đại cục – cụ thể – kỹ thuật và “bếp núc” nhất trong hầu suốt thời gian làm đường Hạnh Phúc. Sau này, ông làm đến Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang, và về hưu vào năm 1991 (lưu ý, hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang đã có nhiều năm hợp nhất thành tỉnh Hà Tuyên). Sau đây là cuộc trò chuyện của chúng tôi. PV Vietimes xin được trích nguyên văn băng ghi âm ra để hầu độc giả.
Hơn 2 triệu ngày công, suốt 8 năm làm đường Hà Giang – Mèo Vạc: điều vĩ đại nhất là thuộc về bà con dân công!
Nhắc đến hai chữ Đường Hạnh Phúc, mắt ông Phạm Đình Dy sáng rực. Câu chuyện dè dặt của ông Bí thư tỉnh uỷ về hưu sống giữa lòng thủ đô, bỗng xôm trò tới mức đôi chỗ ông “văng tục một cách thân mật”. Đến nửa thế kỷ nay, mới có người có ý định làm một công trình “viết lách” cho ngọn nguồn về cái đại công trình mà ông và hơn 2 triệu ngày công thanh niên xung phong của 6 tỉnh và dân công tỉnh Hà Giang đã phải nai lưng ra đẽo đá ròng rã 6 năm trời (24km khủng khiếp nhất từ Đồng Văn vượt Mã Pí Lèng lên Mèo Vạc làm mất 2 năm nữa là 8 năm), không vui sao được? Ông Dy bảo:
- Có nhiều người đã “xui” tôi phải viết lại lịch sử công trường vĩ đại và đáng tự hào vô biên này. Nhưng tôi bận quá, vả lại mình lại không có duyên trong chuyện viết lách.[/ALIGN]Miên man chìm trong hoài niệm về cái ngày Hà Giang (có lúc ghép tỉnh thành Hà Tuyên) không thể hoang sơ hơn ấy. Bấy giờ ông là anh cán bộ của Ty giao thông đi khảo sát mở tuyến đường Hạnh Phúc kỳ vĩ như một Vạn lý trường thành của Việt Nam. Dù sóng sánh tự hào, dù đã chân tình đến độ khoa chân múa tay diễn giải theo lối của người Mông miền bắc ải, ông Dy vẫn rưng rưng:[/I]
- Cái vĩ đại của việc mở con đường Hạnh Phúc này chính là người dân tham gia mở đường, rất vĩ đại. Đấy là công trình của nhiều người.
- PV: Của nhiều người, nhiều thế hệ…
- Không nói nhiều thế hệ như anh được. Trước đây chả có thế hệ nào làm đường trên vùng phía Bắc tỉnh Hà Giang cả, nói thật là như thế. Trước kia chỉ có cái đường của thằng Tây nó làm để đi từ Hà Nội đi đến Hà Giang. Đi đến Hà Giang là hết, chả có cái đường nào cho xe cộ đi nữa. Chỉ có đi bộ, “thổ ty”, “bang tá” (tầng lớp thống trị trong chế độ phong kiến ở vùng cao – PV) thì đi ngựa kẽo kẹt vượt núi.
- PV: Ngày bác công tác ở Hà Giang rồi tham gia “Tổng chỉ huy công trường Đường Hạnh Phúc”, từ Hà Giang lên Đồng Văn, Mèo Vạc (lúc đó chưa thành lập huyện Mèo Vạc) khoảng gần 200 cây số dốc núi, vẫn chỉ là hoàn toàn phải đi bộ…
- Đi ngựa, lúc ấy anh nào là cán bộ cấp tỉnh thì có ngựa đi, còn nói chung thì cán bộ là bách bộ thôi. Mà đường thì cũng không phải rộng lớn gì, nó còn nhiều dốc quanh co lắm, trước kia nó là đường người và ngựa đi chứ không có một cái phương tiện thô sơ nào khác. Độ ấy, chúng tôi, mỗi lúc phải đi công tác về huyện, về xã, thì cứ lặng lẽ mà chuẩn bị, mà bàn giao tính toán cho chu toàn cái khối công việc ở nhà, ở cơ quan trong khoảng… 10 ngày là tối thiểu. Vì anh chỉ đi bộ thôi chứ chẳng có phương tiện gì khác, đi bộ suốt 10 ngày trời.
- PV: Tính ra, từ khi bác ra công tác còn là một cậu thanh niên đến khi nhận công tác khảo sát, “ngoại giao con thoi” tính toán với chuyên gia trong và ngoài nước, rồi làm Tổng chỉ huy công trình, tính ra là bao nhiêu năm, bác Dy nhỉ ?
- Tôi, ngày xưa học trường Bưởi, đến khi kháng chiến toàn quốc thì trường đóng cửa chuyển lên tỉnh Phú Thọ, tôi không theo được vì nhà không có tiền. Tôi học Cao Đẳng kỹ thuật, sắc lệnh do Hồ Chủ tịch kí năm 1948, đó là sắc lệnh số 1, giao cho ông Đặng Phúc Thông (bấy giờ đang là Thứ trưởng) làm hiệu trưởng. Học cái trường ấy xong thì tháng 9.1950, tôi tốt nghiệp ra trường, hồi ấy gọi là Tham Sự. Cấp trên điều tôi đi Miền Bắc, các ông ấy bảo lên Cao Bằng. Thời gian sau, tôi lại được điều động đi làm đường ở tít mãi Bắc Sơn, làm đường ở đấy là phục vụ chủ trương, phục vụ (tạo “gọng kìm sức mạnh”) cho chiến trường Điện Biên Phủ. Nhưng đường ấy làm chưa xong thì chiến dịch Điện Biên Phủ đã thắng lợi rồi. Đến năm 1954, các ông (cấp trên) ngồi tính thế nào, các ông ấy lại bảo: “Ông hồi trước ông ở Cao Bằng quen rồi, bây giờ cử ông đi miền núi”. Bảo đi thì đi thôi, xưa thì dễ lắm, sai cán bộ thì chả ai cãi cọ gì.
Tôi bắt đầu lên Hà Giang là đầu năm 1958 và ở đó cho đến năm 1991 thì về hưu (khi đó đang giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ). Năm 1958 bắt đầu lên Hà Giang, bây giờ ngồi nhớ lại hồi năm 1958 thế này nhé: cái anh Xã (Bí thư Tỉnh uỷ), cái anh gọi là tính khí rất “nông dân”, tốt bụng lắm. Ông ấy là Bí thư tỉnh ủy, ông ấy hiền lành, ông ấy bảo: “Thế chó nào cái đất này khổ quá ông ạ, đường xá chả có. Bây giờ ông nghiên cứu cho tôi xem bây giờ lên phía Bắc (các huyện Yên Minh, Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc hiện nay – PV) tỉnh ta ấy, xem đường xá có làm được không. Tôi cũng biết là khó khăn lắm, nhưng anh chịu khó nghiên cứu xem: liệu có làm được không?” Mình với một cán bộ nữa mới đem con ngựa đi, đi để xem xét lại cái đường mòn ngày xưa nó thế nào. Chúng tôi có nhõn cái bản đồ tỷ lệ 1/100.000, bản đồ của Tây, nghiên cứu trên bản đồ kỹ đã, rồi chúng tôi lếch thếch cuốc bộ đi… hình dung ra con đường, mất độ gần một tháng trời lặn lội. Về báo cáo với anh Xã thì anh Xã bảo: “Anh báo cáo với tôi thế thì tôi biết vậy thôi chứ về chuyên môn thì tôi không hiểu gì đâu, anh cứ chuẩn bị tất cả đi, hôm nào tôi với anh đi về Khu xin ý kiến. Bấy giờ Hà Giang là một tỉnh nằm trong cái đơn vị hành chính cũ gọi là Khu tự trị Việt Bắc (gồm một số tỉnh hợp lại, do đồng chí Chu Văn Tấn là Bí thư Khu ủy). Thế thì chuẩn bị. Đang cấp tập nghiên cứu thì độp một cái thế nào bên Trung Quốc họ lại cử cho hai cán bộ gọi là công trình sư sang, họ bảo: “Nghe nói bên Hà Giang các ông đang chuẩn bị làm đường, chúng tôi sang hỗ trợ”. Một ông tên là Vương, một ông tên là Hà. Đến năm 1959 thì đường Hạnh Phúc được chính thức khởi công.

Khi con đường mở qua sự khắc nghiệt của các cao nguyên vòi vọi, cũng là lúc phong cảnh núi rừng lên hương sắc với ruộng bậc thang ánh nước kỳ ảo, với bản làng xanh tươi. Các cao nguyên thức dậy với sức quyến rũ vốn có của nó. Ảnh: Đỗ Hoàng Duy Nguyên
Xem tiếp trang: 1 2















