Vài dòng tản mạn trên đỉnh Mã Pí Lèng hôm nay
Kỳ IV:Lời tạm kết thúc loạt bài hay là vài dòng tản mạn trên đỉnh Mã Pí Lèng hôm nay
Vào thời điểm thông xe đường Hạnh Phúc cách đây gần nửa thế kỷ, phía sau những dãy núi ủ mây ấy có tới 8 vạn đồng bào lam lũ và mến thương của chúng ta đang nao lòng vẫy gọi. Con đường khảm trên đá sau hơn hai triệu ngày công của hàng nghìn thanh niên tình nguyện kia đã thực sự đem đến Hạnh Phúc cho cả mênh mông núi đá của bốn huyện vùng cao phía Bắc tỉnh Hà Giang hiện nay…

Chân dung cao nguyên đá. Ảnh: Na Sơn.
Vui một chốc lại buồn một chốc. Kiến nghị thành lập mãi mà phải đến tháng 10/2003, ông và đồng đội phải về tận Hà Nội gặp ông Nguyễn Việt Phát, Chỉ huy trưởng Thanh niên Xung phong toàn quốc thì Ban liên lạc Thanh niên Xung phong đường Đồng Văn – Hà Giang mới được thành lập.
Có người được truy lĩnh một ít tiền công trạng. Có người vẫn lặng lẽ ngồi chờ. Điều đó không quan trọng. Đau lòng hơn là ngay cả những người đã ngã xuống vĩnh viễn với miền Bắc núi đá biên cương Hà Giang, họ vẫn quá âm thầm, hiu quạnh trong một nghĩa trang tít huyện Yên Minh, Hà Giang. Sự tôn vinh cho cống hiến và sự hy sinh quá lớn kia vẫn hầu như chưa có gì.
Mỗi lúc, anh chị em đem chiến công oai hùng của mình ra kể với con cháu, các cháu lại hoài nghi thảng thốt: có thật không ông (bà). Khúc tráng ca kỳ diệu bậc nhất của lịch sử phá đá mở đường, “tiến vào rừng sâu làm giàu cho tổ quốc”, “đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”… đã ít nhiều bị bỏ quên?
Không lẽ lại bị bỏ quên, anh em Thanh niên Xung phong mở đường Hạnh phúc, năm 2003, quyết tâm góp tiền thuê một chuyến ôtô lên tỉnh Thái Nguyên, tìm vào Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Bắc. Ngày xưa, đây là bảo tàng của khu Tự trị Việt Bắc, có lưu giữ sa bàn và nhiều tư liệu liên quan đến việc mở đường Hạnh phúc vào Đồng Văn, các đồng chí Thanh niên Xung phong Lạng Sơn đã nhiều lần được nhìn thấy tận mắt mà. Lần theo dấu lịch sử gần nửa thế kỷ trước, than ôi, các vị người hùng phá đá già nua của chúng ta chỉ gặp: đào hoa y cựu tiếu đông phong. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông, một cái cười nhạo.
Không còn một dấu vết trưng bày về cái “Vạn lý trường thành của Việt Nam” xưa. Sau nhiều lần sáp nhập, thêm bớt, hình như cái công trình cũ kỹ trên vùng biên cương heo hút kia đã bị coi là chỗ cần phải… bớt đi. Cái sa bàn kỳ vĩ ấy, nó đã biến đi đâu? Khi Tự trị Việt Bắc đã giải thể từ năm 1976, tức là 28 năm trước, ai mà biết được? Ông Đỗ Đức Mai, sinh năm 1934, chậm chạp ở tuổi 73, nhưng cũng xông pha đi tìm dấu tích con đường xưa rất nhiều, ông là người đi từ đầu đến cuối cuộc trường chinh 5 năm phá đá tiến từng xăngtimét vào Đồng Văn, nay lẩm bẩm: tôi hỏi anh Âu Văn Hợp, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hà Giang, anh ấy cũng thật thà: cháu cũng không hiểu tại sao đường Đồng Văn lại tên là đường Hạnh Phúc, bác ạ. Đấy, đương kim Giám đốc Bảo tàng mà anh ấy còn không biết, trách gì giới trẻ.Ông Mai cũng như ông Hoàng Văn Hộ và các cựu Thanh niên Xung phong khác, thời gian trôi đi một cách tàn nhẫn. Sống thành người được là may chứ nói gì giấy tờ sổ sách. Quê ở Thuỵ Hùng, Cao Lộc, Lạng Sơn, ông Hộ năm nay 66 tuổi. 17 tuổi, mù chữ, ông Hộ xung phong đi mở đường Thanh niên Việt Bắc, ăn rừng ngủ đá 5 năm, trở về học bổ túc làm cán bộ xã Thuỵ Hùng đến khi nghỉ hưu. Giấy tờ của ông đã bị thất lạc toàn bộ hồi chiến tranh biên giới năm 1979.
Như ông Đàm Văn Kiềm, sau 5 năm quên mình treo mình trên vách đá mở đường khủng khiếp, sau này về thành đạt mấy chục năm làm cán bộ toà án, viện kiểm sát từ huyện lên tỉnh thì ông ấy mới có điều kiện kinh tế và thời gian ôn cố tri tân (nên giấy tờ huân huy chương còn cả). Chứ anh em lận đận, mấy ai còn thì giờ mà nghĩ đến giữ giấy tờ để về già hưởng chế độ, hoặc an nhàn kể chuyện chiến công cho con cháu nghe? Bà Viên Chi Anh (năm nay 66 tuổi) là người hiếm hoi giữ được vài tấm ảnh khi tham gia thi công tại công trường, lý do là bà rất… xinh đẹp. Bà hay được anh chị em mời chụp ảnh khi có cơ hội (rất rất hiếm khi), rồi anh chị em tặng cho bà một tấm ảnh với lời đề tặng thương “nhớ mãi”. Cái tình tứ trai gái công trường, không ngờ có ngày đã đem lại chút tư liệu ỏn sót cho thế hệ sau phần nào hình dung được về một đại công trường “độc nhất vô nhị” của lịch sử dân tộc!
Câu chuyện này có cái gì đó thật bi hài, ỏn sót. Có cái gì đó khiến thế hệ sinh ra sau giải phóng miền Nam chúng tôi cảm thấy có lỗi với giọt mồ hôi, giọt máu của thế hệ cha anh đã đổ xuống cho đường Hạnh Phúc từ gần nửa thế kỷ trước…
Xem tiếp trang: 1 2















